
8 hình thái Thương hiệu Quốc gia
Trong tham luận vào ngày Thương hiệu Việt Nam năm 2009, tôi có đề
cập những hình thức thể hiện của thương hiệu quốc gia, và luôn nhấn
mạnh rằng “thương hiệu quốc gia” là một tập hợp rộng và có thể phân
thành 8 nhóm chính, xin được liệt kê lại ở đây như sau: (1) Thương hiệu chính thức quốc gia, (2) Thương hiệu chứng nhận, (3) Tập hợp các thương hiệu địa danh, (4) Thương hiệu doanh nghiệp tiêu biểu, (5) Tập hợp sản phẩm tiêu biểu quốc gia và (6) Thương hiệu di sản văn hoá lịch sử, (7) Thương hiệu hiệp hội & tập thể và (8) tập hợp các sứ giả thương hiệu quốc gia.
Thương hiệu quốc gia vì vậy là một tập hợp rộng các dạng thức thương
hiệu nói trên. Mỗi dạng thức có một vai trò và sứ mệnh riêng đồng thời
tác động tương hỗ với nhau rất mật thiết. Một chiến lược thương hiệu
quốc gia tổng thể vì vậy nên phải đề cập hết các dạng thức thương hiệu
nêu trên, và mỗi dạng thức tự mình cũng phải có một chiến lược hành
động và cơ chế tài chính thương hiệu (brand finance) khác biệt. Các
nguồn tài chính này nếu biết các hoạch định đúng đắn sẽ diễn biến theo
hướng đầu tư có lãi vì những lợi ích thiết thực mà thương hiệu có thể
mang lại. Tuy nhiên cần phải có một hoạch định theo hướng trung hạn và
dài hạn thì thương hiệu mới phát huy hiệu quả của nó.
Và ý nghĩa của việc chung tay xây dựng thương hiệu
Chính vì bản chất đa dạng của tập hợp các hình thức “thương hiệu
quốc gia” như vừa phân tích trên đây cho nên trong những năm gần đây
mới có “phong trào” nhà nhà làm thương hiệu, và điều này cần xét dưới
một thái độ tích cực. Việc “chung tay” xây dựng thương hiệu do vậy cũng
có những định hướng và nhiệm vụ rõ ràng hơn cho từng nhóm người. Và
chung cuộc, mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi vị đại sứ, mỗi người con
Kiều Bào, mỗi một bạn sinh viên du học, hay mỗi người đẹp “chân dài” là
sứ giả của những thương hiệu lừng danh…tất cả đều có thể tìm thấy “sứ
mệnh” riêng của mình trong một “tầm nhìn chung” đó là Đất Nước Việt
Nam, Con Người Việt Nam.
Vì vậy nên chăng trong bài viết này, dưới góc nhìn chuyên môn, chúng
tôi xin đóng góp bằng cách phân tích bản chất và ý nghĩa thương hiệu
theo từng nhóm thương hiệu khác nhau để giúp mọi người có một cái nhìn
cụ thể hơn về sứ mệnh của mình. Và có lẽ cần nhấn mạnh rằng không có
một sứ mệnh nào là nhỏ nhoi cả.
Tuỳ theo góc độ tiếp cận việc xây dựng thương hiệu quốc gia có thể
là một dạng phong trào (Hành Trình Tiếp Thị Việt Nam, báo Tuổi Trẻ
2006) cho đến những chương trình nghiêm túc hơn, chuyên nghiệp hơn và
thậm chí là có mục tiêu kinh doanh rõ ràng chứ không đơn thuần là một
dạng “tiếp thị chính sách” hay “tiếp thị xã hội”.
Mỗi Bộ ngành, mỗi một cơ quan báo chí & truyền thông, mỗi hiệp
hội hay một địa phương tỉnh thành… đều có thể xác lập cho mình những sứ
mệnh và chiến lược riêng, nhưng tất thảy đều nên cần có một tầm nhìn
chung hướng đến những giá trị chung, tính cách chung tiêu biểu cho
thương hiệu Việt Nam và cũng rất cần phối hợp chung trong những chương
trình có cùng mục tiêu chiến lược.
Giải pháp và ý tưởng
(1) Đối với Thương hiệu chính thức quốc gia – đó là
hình ảnh chính thống đã được được xác lập bởi chủ tịch Hồ Chí Minh, với
bản Tuyên ngôn Độc lập nổi tiếng, bởi những sứ mệnh vinh quanh đã làm
rạng danh người dân Việt Nam trong những cuộc chiến tranh dành độc lập
dân tộc. Hình ảnh Việt Nam ngày nay còn mang tính chất năng động, một
đất nước an toàn, thân thiện và bắt tay với bạn bè đối tác khắp năm
châu. Việt Nam đang hội tụ cao nhất cái Thiên Thời - Địa Lợi - Nhân Hoà
vào lúc này chúng ta đang nằm trong tâm điểm của tất cả mối quan tâm,
sự lưu thông và nơi bình yên của cả thế giới… Hầu như mọi cá nhân trong
chúng ta đều có liên quan đến việc gìn giữ tính nhất quán của hệ thống
nhận diện thương hiệu quốc gia Việt Nam. Tôi xin đơn cử một chuyện nhỏ
là mãi đến gần đây nhiều người trong chúng ta vẫn không phân biệt một
lá cờ đỏ sao vàng treo ngược ngôi sao; một nhà đầu tư ở miền Trung thì
ghi tên Biển Đông là China Sea; hay nói chung chưa phổ biến quy chuẩn
nhận diện hay quy cách sử dụng cho hệ thống nhận diện quốc gia. Và cũng
cần nhận xét rằng việc thực thi hệ thống nhận diện thương hiệu một cách
nhất quán là không có ngoại lệ.
(2) Đối với Thương hiệu chứng nhận – đó chính là
những nỗ lực từ một thành phố Hồ Chí Minh năng động ngay từ những năm
90 đã hình thành chương trình quảng bá thương hiệu mang một cái tên rất
gần gũi “Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao” cho đến nay vẫn kiên trì phát
triển; đó là giải thưởng của Thời báo Kinh tế Việt Nam mang tên “Thương
Hiệu Việt”; đó là “Giải Thưởng Sao Đỏ” và “Sao Vàng Đất Việt” của Hội
Doanh Nghiệp Trẻ Việt Nam; đó là chương trình Vietnam Value xác lập
thương hiệu quốc gia <thương hiệu chứng nhận>. Riêng đối với
những chương trình này, sứ mệnh trong thời gian kế tiếp không còn chỉ
là sứ mệnh mang tính nội địa và định hướng quảng bá trong nước, mà cần
thiết phải hướng ra thị trường thế giới bằng một tầm nhìn mới, hình
thức thương hiệu mới và cách thức quảng bá mới mẻ trong một cơ chế
chuyên nghiệp hơn, và minh bạch hơn. Các chương trình “thương hiệu quốc
gia” dạng này nhất thiết phải nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ doanh
nghiệp và phải hiện thực hoá lợi ích của doanh nghiệp hớn đến thị
trường quốc tế. Đồng thời quy chế và các tiêu chí đánh giá (hay khảo
sát) cũng cần phải thay đổi cho phù hợp với chiến lược quốc tế, trong
đó chú trọng theo ngành nghề và không phân biệt thành phần kinh tế.
Dưới góc độ chuyên môn khá năng và vai trò của “thương hiệu chứng nhận”
rất lớn nhưng các nhà điều hành các dự án thương hiệu chứng nhận hiện
nay chưa biết khai thác đúng mức. Những giải pháp, cơ hội và ý tưởng
còn bỏ ngỏ rất nhiều: đó là việc đề ra các chính sách bảo vệ uy tín
chất lượng cho thương hiệu thành viên (là các thương hiệu được chứng
nhận), hợp tác chống hàng giả, hàng nhái nhãn mác và bảo vệ người tiêu
dùng; đó là việc thiết kế thương hiệu, và hệ thống nhận diện thương
hiệu chuẩn xác nhất quán, quảng bá thương hiệu chủ thể chứng nhận nhằm
nâng cao giá trị cho thương hiệu được gắn nhãn (việc này chỉ có HVLCLC
làm khá tốt) tuy nhiên cho đến giờ vẫn chưa có những chương trình quảng
bá thương hiệu chứng nhận ra nước ngoài thật mạnh mẽ và bài bản; đó là
việc đào tạo huấn luyện nguồn nhân lực thương hiệu cho cộng đồng doanh
nghiệp được chứng nhận, tuyên truyền những lợi ích và kỹ năng xây dựng
thương hiệu chuyên nghiệp; đó là việc thành lập những trung tâm nghiên
cứu & phát triển, nghiên cứu marketing, khảo sát thị trường, tổ
chức các hoạt động quảng bá chung (co-promotion); đó là việc xây dựng
quy chế tài chính cho thương hiệu chứng nhận (hay thương hiệu tập thể)
và phổ biến thi hành quy chế tài chính thương hiệu (brand finance) cho
tất cả thành viên thương hiệu. (3) Tập hợp các thương hiệu địa danh - Trong suốt lịch
sử phát triển, đất nước ta đang sở hữu những cái tên địa danh mang giá
trị rất tốt trong việc khai thác thương hiệu. Trong số những thương
hiệu địa danh nổi tiếng sẵn có, chúng ta có: Dalat, Sapa, Ha Long, Dien
Bien Phu, Saigon, Hue, Tp Ho Chi Minh, Ha Noi, Thang Long… Bên cạnh đó
lại có cơ hội quảng bá và khai thác những thương hiệu địa danh mới như
Mũi Né, Nha Trang, Phu Quoc, Địa Đạo Củ Chi, Mekong…
Thương hiệu địa danh được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau: du lịch, gắn nhãn vào sản phẩm, quảng bá đầu tư…
Những địa danh độc đáo như “Địa Đạo Củ Chi” hay địa danh giàu bản
sắc như Sapa cần được nâng tầm thương hiệu quốc gia và đưa vào danh mục
quảng bá chung cấp độ quốc gia. Tự thân các thương hiệu địa danh này đã
có thể hình thành một lượng truyền thông rất lớn (media weight) nhưng
với hiệu quả cao (high rating, CPM) do hiệu ứng truyền miệng. Trọng tâm
của các thương hiệu địa danh cũng phải tạo ra những điểm nhất trung tâm
được đầu tư mạnh để tạo ra dấu ấn như công viên núi Hàm Rồng của Sapa,
hay một bào tàng sống tái hiện lịch sử như bảo thàng chứng tích chiến
tranh (TP HCM), bảo tàng dân tộc học (Hà Nội) là những nơi để lại ấn
tượng khó quên trong lòng du khách. Ở đây chúng ta chưa thấy những sự
phối hợp sản phẩm và phối hợp tiếp thị (join-marketing, co-branding)
một cách sáng tạo giữa sản phẩm vật chất và sản phẩm văn hoá tiêu biểu
của địa danh. Chẳng hạn ở Sapa ngoài một số thổ cẩm thì dọc các tuyến
phố vẫn thấy hàng hoá Trung Quốc bày bán tràn lan.
Một địa danh như làng Gốm Bát Tràng hay Lụa Vạn Phúc nếu biết phối
hợp trong một chiến lược chung giữa du lịch và sản xuất kinh doanh sẽ
đạt hiệu quả cao và tiếng vang xa hơn.
(4) Thương hiệu doanh nghiệp tiêu biểu - Theo ngành
nghề các chương trình cần nhận thấy cơ hội của những ngành nghề theo
thế mạnh, theo tiềm năng và theo tầm nhìn chiến lược. Chẳng hạn những
ngành sản xuất chế biên nguyên liệu và sản phẩm chế biến từ nông nghiệp
sẽ cần ưu tiên hơn lĩnh vực khai khoán (xuất thô). Cụ thể như ngành
cao-su đứng trước nguy cơ nhập siêu quá lớn trong cán cân thương mại
với Trung Quốc, Tập đoàn Cao su Việt Nam (VRG) cần thiết phải đầu tư
gia tăng giá trị cho cao-su thô cụ thể là đầu tư vào ngành công nghiệp
sản xuất lốp ô-tô và tập trung nguồn lực để xây dựng “thương hiệu sản
phẩm lốp xe cao cấp” (như lốp radial cho xe hơi mà Casumina đã làm được
với nhãn Euromina) và thay đối chiến lược xuất khẩu với Trung Quốc đó
là tiếp cận trực tiếp với các nhà sản xuất & lắp ráp ô-tô để cung
cấp lốp xe hơi chất lượng cao hoặc hợp tác đầu tư nhà máy sản xuất lốp
xe tại Việt Nam, chứ không phải chỉ lo xuất khẩu cao su thô như hiện
nay.
Mỗi doanh nghiệp lớn ngoài sứ mệnh kinh doanh của chính mình cần xét
đến sứ mệnh kinh doanh mang tính cộng đồng trong một chuỗi giá trị mà
điềm đầu có thể sẽ là những người nông dân, những doanh nghiệp nhỏ rải
rác khắp nơi sẽ tạo thành chuỗi liên kết dọc để ổn định kinh doanh dựa
trên lợi thế thương hiệu Việt của doanh nghiệp đầu tàu chứ không phải
chịu cảnh ép giá từ các nhà thu mua từ nước ngoài hoặc các nhà xuất
khẩu chỉ là trung gian. Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, và trong
tương lai chúng ta cũng không dễ dàng từ bỏ quốc gia có nền văn minh
nông nghiệp lâu đời, nhưng sẽ cần đến một tư duy kinh doanh mới, với
những thương hiệu mạnh xác lập vị thế dẫn đấu trong các chuỗi giá trị
sản phẩm đi từ nông nghiệp và thăng hoa ở giá trị mềm nhắm đến lợi ích
và văn hoá của khách hàng và thị trường đích chứ không còn đơn thuần là
các sản phẩm chế biến thô hay thuần lý tính.
Những đại công ty như Petro Vietnam chắc hẳn mang một sứ mệnh thương
hiệu Việt Nam rõ ràng. Bản thân các đại thương hiệu này cũng cần phải
có một chiến lược thương hiệu vững mạnh và một bộ mặt thương hiệu xứng
tầm quốc tế. Trong trường hợp Petro Vietnam chúng tôi cũng nhận thấy
những động thái rất chuyên nghiệp, nhất là thông qua bộ quy chế thương
hiệu tập đoàn.
(5) Tập hợp sản phẩm tiêu biểu quốc gia – Trong đó cần phân biệt hai nhóm chính, một là các sản phẩm truyền thống và hai là các sản phẩm công nghệ cao.
Trong nhóm các thương hiệu sản phẩm truyền thống chúng ta có những
sản phẩm nổi tiếng và những sản phẩm rất tiềm năng. Sản phẩm nổi tiếng
thì có Áo dài, Phở, Cà phê những sản phẩm tiềm năng có thể kể như Kẹo
dừa, Sản phẩm từ Cao su thiên nhiên, các sản phẩm công nghệ cao gồm:
sản phẩm từ công nghệ nano, hàng điện tử tiêu dùng, chip điện tử &
chip không dây, sản phẩm công nghệ sinh học, công nghệ cơ khí tự động
(công nghệ CNC ứng dụng như sản phẩm coppha FUVI là một ví dụ), công
nghệ IT và ứng dụng của sản phẩm IT vào các ngành khác (thương hiệu
FPT)…
Có quá nhiều những sản phẩm từ văn minh nông nghiệp Việt, xin
liệt kê một cách ngắn gọn: gạo, cà phê, tôm sú, cá tra (pangasius),
trái cây nhiệt đới, thảo dược, trà và rượu…
Đối với luá gạo, gần đây chúng tôi thường cổ suý cho khái niệm “xuất
khẩu văn minh trồng luá” chứ không chỉ đơn thuần là xuất khẩu gạo, với
chiến lược xuất khẩu nghề trồng luá thì Việt Nam chúng ta có đủ cơ sở
khẳng định sẽ trở thành “cường quốc số một thế giới” về Luá Gạo. Trà
cũng là một loại sản vật lâu đời của Việt Nam. Nếu chúng ta biết quy
hoạch định hướng du lịch cho vùng chè cổ thụ Suối Giàng với thương hiệu
Chè Shan Tuyết của Yên bái, hay cảnh quan và thương hiệu trà Cầu Đất
của Lâm Đồng thì đó không chỉ là khai thác nông sản “nguyên liệu thô”
mà còn được nhiều giá trị hơn và nhiều sản phẩm hơn là những búp chè
(trà) chất lượng cao.
Quay trở lại sản phẩm Cà phê, ngay từ thập niêm 80 chúng ta đã có
một thương hiệu nổi tiếng và sản phẩm chất lượng cao đó là Vinacafe,
trải qua nhiều thập kỷ Vinacafe không ngừng giữa vững vị thế dẫn đầu
không chỉ tại Việt Nam mà từng bước xây dựng và chinh phục thị trường
quốc tế, nhất là thị trường Mỹ và Trung Quốc. Vào thời điểm hiện nay
chúng tôi rất vui được biết Vinacafe cũng đang xác lập chiến lược mới
xứng với tầm nhìn và sứ mệnh mới không chỉ là một thương hiệu cà phê
ngon số một mà còn mà một thương hiệu cà phê Việt Nam sẽ được biết đến
rộng rãi trên toàn thế giới, cùng với việc đồng hành của Vinacafe với
các sứ mệnh thương hiệu quốc gia mà Vinacafe đang kiên trì theo đổi.
(6) Thương hiệu di sản, văn hoá, lịch sử. Việt Nam
chúng ta có một lịch sử rất lâu đời, thậm chí những phát hiện lịch sử
khảo cổ gần đây còn khẳng định nền văn hoá Hoà Bình là cái nôi của văn
minh nông nghiệp trên toàn thế giới. Một lịch sử đẹp và hào hùng của
thời dựng nước và giữ nước cũng là một giá trị bản sắc, bên cạnh đó là
rất nhiều những di sản văn hoá và di sản thiên nhiên… tất cả là nguồn
giá trị để xác lập bản sắc thương hiệu và góp phần vững chắc tôn vinh
thương hiệu Việt Nam. Việc xây dựng thương hiệu Việt Nam dưới góc độ di
sản, văn hoá, lịch sử còn đóng góp cho những mục đích khác nhau như
giáo dục lòng yêu nước, củng cố lòng tự hào dân tộc, hun đúc ý chí cho
từng cá nhân từng công dân người Việt cả trong và ngoài nước. Đơn cử di
sản Trống Đồng nếu biết phát huy giá trị văn hoá Đông Sơn và Trống
Đồng, chúng ta cũng đã có thêm một thương hiệu cho Việt Nam, thương
hiệu này khẳng định giá trị văn minh lâu đời và làm tôn thêm uy tín
quốc gia trên toàn thế giới.
Chỉ riêng văn hoá Trống Đồng & Lịch sử Văn minh Việt đã có rất
nhiều ý tưởng để xây dựng thương hiệu quốc gia. Đó là việc áp dụng “hoa
văn trống đồng” trong các thiết kế logo, biểu trưng và bao bì sản phẩm;
đó là việc các doanh nhân Việt đang có ý thức thờ Trống Đồng, trưng bày
trống đồng ở nơi trang nghiêm nhất trong công ty và “dòng lên hồi
trống” vào những thời khắc quan trọng của doanh nghiệp; trống đồng còn
có thể là quà tặng từ các nguyên thủ các đại sứ Việt Nam cho khách quý,
nguyên thủ các nước; đó là quà lưu niệm hình trống đồng bằng chất liệu
quý để bán cho du khách; đó có thể là một công việc văn hoá du lịch chủ
đề Văn minh Đông Sơn, Trống Đồng và Thời đại Hùng Vương…
(7) Thương hiệu hiệp hội ngành nghề. Càng ngày vai
trò của các hiệp hội ngành nghề đối với thương hiệu tập thể và thương
hiệu quốc gia càng quan trọng. Điển hình như trong các vụ tranh chấp
thương mại quốc tế vai trò của các hiệp hội nắm vai trò chủ đạo. Hiệp
hội còn có chiến lược quảng bá thương hiệu quốc gia đối với một ngành
nghề hay sản phẩm cụ thể. Hiệp hội còn giúp các thành viên định hướng
đầu tư kinh doanh tốt, phối hợp lại trong chiến lược phân phối, mở rộng
thị trường quốc tế. Trong nhiều trường hợp còn nâng tầm và thay đổi
chiến lược để ra những bước đi mang tính đột phá. Chẳng hạn Hiệp hội
Dệt May cần nâng tầm nhìn trở thành hiệp hội Công nghiệp Dệt May và
Thời trang, khi đó sẽ hình thành một nhóm ngành nghề bổ sung quan trọng
đó là ngành thiết kế: thiết kể sản phẩm & kiểu dáng, thiết kế thời
trang cho đến thiết kế truyền thông (visual communication design). Khi
đó trọng tâm chiến lược mới sẽ là đầu tư thương hiệu, hệ thống phân
phối quốc tế và tập trung nghiên cứu & phát triển và hình thành
những thương hiệu chuỗi department store chuyên nghiệp (cao cấp hơn
chuỗi Vinatex Mart như hiện nay chỉ bán sản phẩm mang tính nội địa).
Một hiệp hội ngành nghề hoàn toàn có thể đưa ra những chiến lược
mang tính cách mạng. Điển hình là hiện trạng thương hiệu “Nước Mắm Phú
Quốc” nếu hiệp hội này hoạt động chuyên nghiệp, mạnh mẽ và hiệu quả thì
trước hết phải lập ra những hành lang pháp lý thương hiệu chặt chẽ để
bào vệ tuyệt đối nhãn hiệu nước mắm Phú Quốc nhằm lấy lại uy tín thương
hiệu, từ đó mới xác nhập các cấp độ thương hiệu và chính sách khai thác
nhượng quyền thương hiệu có thu, nắm đến 2 nhóm thành viên với 2 thương
hiệu khác nhau một là Phú Quốc chính gốc và hai là Phú Quốc đóng chai
bên ngoài địa danh từ nguyên liệu nguồn Phú Quốc. Chỉ riêng việc kinh
doanh thương hiệu và quản lý bảo vệ thương hiệu nước mắm Phú Quốc không
đóng chai tại nguồn sẽ là một công việc quản lý đầy thách thức. Chỉ khi
đó nước mắm Phú Quốc mới thực sự là một thương hiệu vững mạnh và có giá
trị thương mại cao nhất.
(8) Sứ giả thương hiệu quốc gia. Mỗi một nhóm đối
tượng mục tiêu sẽ có một hình tượng hoặc sứ giả tiêu biểu. Hình tượng
danh nhân văn hoá chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi là một hình tượng sứ
giả rất sống động và được biết đến một cách rộng rãi cho nhiều thế hệ.
Một người đẹp hay một tài năng tiêu biểu cũng cần được nhìn nhận,
tôn vinh và có một chiến lược để hỗ trợ và khai thác có định hướng
không chỉ tôn vinh cá nhân “sứ giả” mà còn làm vững thêm giá trị thương
hiệu quốc gia (adding value to the nation brand).
Chúng ta luôn tin tưởng càng ngày càng có nhiều tài năng Việt khẳng
định tên tuổi của mình trên toàn thế giới. Điều rõ ràng nhất là ý thức
thương hiệu sẽ giúp tài năng được phát huy tốt hơn và được sử dụng hiệu
quả hơn cho bản thân và cho uy tín chung của quốc gia. Những hình tượng
này giúp định hướng thần tượng cho giới trẻ một cách lành mạnh hơn.
Nước Mỹ sau thế chiến thứ II đã hình thành ý thức khai thác “quyền
lực mềm” mà chúng ta có thể hiểu và vận dụng theo tư duy mới với định
nghĩa “giá trị mềm” rất gần với những khái niệm cơ bản của thương hiệu.
Những hình ảnh tiêu biểu từ Hollywood có thể là một thế lực mạnh mẽ
nhất chinh phục người dân toàn cầu. Hàng loạt những tên tuổi và siêu
phẩm điện ảnh cứ lần lượt ra mắt, quyến rũ và chinh phục hàng tỷ khán
giả khắp hành tinh. Khái niệm “sứ giả thương hiệu quốc gia” vì vậy cần
được hiểu một cách thiết thực và gần gũi như chính sứ mệnh của
marketing vậy.
Võ Văn Quang – TP HCM, 5-2010
(bài viết hưởng ứng Diễn đàn Chung tay Xây dựng Thương hiệu Quốc gia do Vinacafe phối hợp tổ chức với Cục XTTM vào tháng 6-2010)
(Tác giả: Chuyên gia thương hiệu Võ Văn Quang
Phương Trinh - vnBrand)
|